Chương 82: Thu anh tài, sáu khoa cùng mở bảng; giữa trường xuân, con em trung nghĩa cùng trở về
Mùa thu năm Kiến Văn thứ mười chín, Ngô Học Thành tới Tế Nam chính thức yết kiến Đế Sư.
Ông tự nói mình học chưa đủ, tới quá muộn, may nhờ Ngự Dương không bỏ nên mới có mặt trong hàng cựu thần.
Nguyệt Quân đáp:
“Quốc biến lần này sinh ra rất nhiều cách giữ trung. Người chết vì tiết là trung; người bỏ quan ẩn đi là trung; người theo vua lưu lạc là trung; người đi tìm hành tại mười mấy năm cũng là trung. Việc khác nhau, lòng chỉ một.”
Nàng nói Ngự Dương đã tiến cử Ngô Học Thành là người đủ sức “tham tán, kinh luân”, không thể chỉ dùng như một học quan bình thường.
Ngô Học Thành được trao địa vị đứng đầu văn chính của hành triều.
Cùng lúc, Triệu Thiên Thái, Lương Điền Ngọc, Vương Tấn, Quách Tiết và nhiều cựu thần khác được sắp lại chức vụ. Diêu Tương nhận trọng trách ở Kinh Môn; các tướng và quan mà Ngự Dương tiến cử cũng được bổ theo sở trường.
Sau đó tới việc lớn thứ hai: mở lại khoa tuyển người.
Nhiều năm đói kém và chiến tranh khiến khoa cử phải gián đoạn. Nay vùng hành triều đã khá rộng, nha môn thiếu người nghiêm trọng. Nếu chỉ dựa cựu thần và con cháu trung nghĩa, chính quyền sẽ hết người trước khi chiến tranh kết thúc.
Nguyệt Quân phê:
“Nhân tài là rường cột quốc gia. Văn chương là vẻ đẹp của triều đình. Vì đói kém, quân vụ mà bỏ việc tuyển người quá lâu, nay phải mở rộng đường lấy sĩ.”
Sáu khoa được thi song song.
Khoa kinh thuật chọn người hiểu kinh điển, nhưng không bắt viết quá nhiều bài theo khuôn cứng. Người thông một kinh được xét một bậc; người thực sự thông nhiều kinh được vượt cấp nếu lý giải rõ.
Khoa kinh tế hỏi việc đương thời: cứu đói, trị nước, giữ kho, dùng người, sửa đê, ổn định vùng mới thu phục. Thí sinh phải viết một bài sách về việc hiện tại, một bài luận chuyện xưa và một bản tấu do mình chọn đề.
Khoa thi phú vẫn giữ thơ và phú, nhưng mục đích xem tài văn thật chứ không xem ai thuộc nhiều bài mẫu.
Ngoài ba khoa văn ấy, hành triều còn xét người có năng lực luật pháp, tính toán–kho vận và quân sự thực hành. Những người giỏi một nghề không bị loại chỉ vì không viết được cùng loại bài với nho sinh.
Ngô Học Thành làm chủ khảo văn trường.
Ông tuy xuất thân kinh học lại hoàn toàn đồng ý giản lược.
Tác giả nhân đó dành một đoạn dài chê lối thi quá nặng khuôn thức. Người xưa có người chỉ nhờ một cuộc đối đáp mà được dùng; đời Hán có người từ núi rừng được triệu thẳng; đời Đường một bài thơ cũng đủ nổi danh; đời Tống vài bài sách luận vẫn sinh ra Âu, Tô, Tăng, Vương. Nếu bắt người tài viết hết hàng loạt thể thức giống nhau, cuối cùng kẻ thuộc văn mẫu có lợi còn người thật sự có sở trường lại chán bỏ đi.
Ngự Dương từng nói:
“Pháp càng nhiều chưa chắc người càng giỏi. Có lúc chỉ làm người chấm không đọc hết và người thi học cách đoán đề.”
Ngô Học Thành đưa câu ấy vào quy định trường thi.
Không khí Tế Nam mùa xuân năm Kiến Văn thứ hai mươi vì vậy khác hẳn những năm chiến trận. Khách trọ đầy sĩ tử. Ngoài thành có người học toán lương, trong chùa có người ôn kinh, trong giáo trường có võ sinh tập đội ngũ.
Nguyệt Quân cấm quan lại mượn kỳ thi tăng giá chỗ ở hoặc ép dân cung ứng miễn phí.
Những người nghèo đi thi được mở một khu nhà công ở tạm.
Bà còn dặn chủ khảo:
“Con trung thần nếu bài không đạt cũng không được lấy vì cha. Con người từng theo Vĩnh Lạc nếu có tài và bản thân không tội cũng không được loại vì nhà.”
Lời ấy gây tranh cãi.
Một số cựu thần nói người trong gia đình đối phương khó tin.
Ngô Học Thành đáp:
“Muốn trị thiên hạ thì không thể bắt con chịu mãi tội lựa chọn của cha.”
Kết quả sáu khoa có nhiều cái tên mới.
Một số hậu duệ trung thần đỗ cao, nhưng cũng có người xuất thân rất thường. Người giỏi kinh điển được đưa vào học quan, sử quán, văn phòng. Người giỏi việc nước được bổ vào phủ huyện mới. Người giỏi pháp được đưa đi cùng các quan xét án. Người giỏi kho vận được giao những tuyến lương từng hay thất thoát. Võ sinh phải qua thêm thời gian trong doanh chứ không được vì một cuộc thi mà lập tức cầm đại quân.
Sau văn trường là võ trường.
Lưu Hổ Nhi, Thiết Đỉnh cùng các tướng kỳ cựu làm người khảo. Họ không chỉ xem sức và kỹ thuật, mà đặt các tình huống chỉ huy, giữ doanh, bảo vệ dân, rút quân có trật tự.
Một võ sinh đánh rất mạnh nhưng liên tiếp bỏ đội để tranh thắng bị xếp thấp.
Lưu Hổ Nhi cười:
“Ngày trước ta cũng thế. Nếu thi hồi trẻ chắc cũng bị đánh rớt.”
Ngự Dương nghe chuyện từ tiền tuyến, gửi về một câu:
“Biết mình từng sai mới có tư cách chấm người trẻ.”
Đúng thời điểm khoa thi kết thúc, nhiều con em trung thần lưu lạc cũng lần lượt trở về Tế Nam.
Có người từ những gia đình từng bị phân tán sau biến Tĩnh Nan. Có người lớn lên ở quê mẹ, tới giờ mới biết cha mình là ai. Có người chỉ đem một bức thư cũ làm bằng chứng.
Hành triều không nhận tất cả ngay.
Ngô Học Thành lập thủ tục đối chiếu quê quán, người làm chứng và tài liệu, vừa tránh người giả danh vừa giúp người thật phục hồi tên họ.
Đứa trẻ Hồ Phục mà Ngô nuôi năm xưa cũng dự học.
Ngô Học Thành không cho cậu được đặc cách:
“Ta nuôi con mười năm không phải để hôm nay có một quan chức.”
Hồ Phục nhận.
Một số người trẻ sau khi biết gia tộc cũ được trả danh, không muốn làm quan mà chỉ xin trở về sửa mộ tổ. Hành triều cũng cho.
Nguyệt Quân nói:
“Phục hồi một dòng họ không có nghĩa bắt tất cả con cháu họ vào triều.”
Mùa thi ấy vì vậy không chỉ là mở bảng.
Nó đánh dấu lúc hành triều từ một chính quyền hình thành trong chiến tranh bắt đầu tự tạo được lớp người mới thay cho những cựu thần đã già và tướng sĩ đã chết.
Cuối mùa xuân, hai sứ giả từ hành tại tới.
Người đi đầu là Trình Hanh, cựu Hộ bộ thị lang; người còn lại vẫn là Trịnh Hiệp.
Họ mang một đạo thủ chiếu Kiến Văn.
Tin vừa tới, các quan đang xem bảng lập tức bỏ hết giấy tờ, chỉnh y phục tới Hoàng Hoa đình nghênh chiếu.
Cuộc bàn về nhân tài vừa xong.
Đạo chiếu mới lại muốn sửa chính quan hệ vua tôi trong cả triều đình.

Ghi chú cá nhân
Chỉ mình bạn thấy