Chương 80: Ngô Thị giảng mười năm nuôi cô tử, Lữ Tướng sớ tiến danh thần
Ngô Học Thành vốn là quan giảng học bên cạnh Kiến Văn Đế, có tiếng học vấn và phẩm hạnh.
Khi kinh thành thất thủ, ông không kịp theo Kiến Văn ra ngoài.
Ngô Học Thành từng nghĩ mình đã mang chức cận thần mà để vua mất tích thì sống còn nghĩa gì. Nhưng sau đó ông tự hỏi: Kiến Văn chưa chắc đã chết; nếu hoàng đế còn sống, một người biết đường đi các nơi mà tự bỏ trách nhiệm thì chỉ khiến việc tìm vua càng khó.
Ông vì vậy bỏ nhà, chỉ mang một người hầu khỏe và thuyền nhỏ, cải trang thành ngư dân.
Trên thuyền chất nhiều sách.
Ông đi theo mọi tin đồn về Kiến Văn: khi nghe vua ở phía tây thì đi ngược Trường Giang; nghe đã tới Hồ Quảng lại quay về Động Đình; có người nói sang hai Quảng, ông đổi hướng; người khác nói vào Thục, ông lại tìm đường lên vùng núi.
Nhiều năm cứ thế trôi.
Mỗi tin đều chậm.
Ngô Học Thành cuối cùng nhận ra chạy theo lời đồn chẳng khác hai người đi ngược nhau quanh một vòng tròn. Kiến Văn có thể vừa rời nơi mình đang tới.
Ông quyết chỉ đi lên xuống Trường Giang, ở nơi thuyền bè tụ hội, hỏi những người từng thấy một nhà sư khí chất khác thường.
Lâu dần sách trên thuyền cũng vơi.
Có lúc tuyệt vọng, Ngô đọc một quyển rồi thả từng trang xuống sông, nghĩ nếu cả đời không tìm được vua thì giữ sách để làm gì. Dân gian về sau đồn ông chỉ đọc “Ly Tao” rồi thả xuống nước, nhưng tác giả còn đính chính: trong thuyền có nhiều sách, không thể tất cả đều là một bộ.
Giữa những năm phiêu bạt, Ngô Học Thành lại nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi của gia đình trung thần.
Cha đứa trẻ từng làm quan hình pháp, gia đình bị liên lụy sau biến Tĩnh Nan. Ngô không muốn huyết mạch một nhà trung nghĩa mất, nên âm thầm nuôi dạy suốt mười năm.
Đứa trẻ lớn lên trong chiếc thuyền, học chữ giữa tiếng nước.
Ngô vẫn không lấy công ấy kể với ai.
Sau khi nghe lực lượng Nguyệt Quân đã lấy Kinh–Tương và đang công khai dùng niên hiệu Kiến Văn, ông mới quyết lên bờ tìm hiểu.
Ban đầu Ngô rất dè chừng.
Ông từng thấy quá nhiều người mượn danh trung nghĩa để cầu quan. Nếu Đường Tái Nhi thực chất muốn tự lập, ông thà tiếp tục làm ngư dân.
Ngô tìm tới Ngự Dương Tử mà không báo thân phận.
Hai người nói về thế nước, về chính thống và việc vì sao hành triều phải có danh thần.
Ngự Dương càng nghe càng nhận ra người trước mặt không phải nho sinh thường.
Ông thử hỏi về cuộc đời trên sông.
Ngô Học Thành cuối cùng thừa nhận.
Quân sư đứng dậy hành lễ:
“Có phải Ngô tiên sinh từng làm thị giảng Kiến Văn, hơn mười năm một thuyền tìm vua?”
Ngô đáp:
“Chính là kẻ chưa làm trọn việc ấy.”
Ngự Dương nói:
“Người tìm mười năm không gặp vua chưa phải bất lực. Biết vua có thể còn mà không tự bỏ trách nhiệm mới thật sự khó.”
Ngô Học Thành vẫn không muốn nhận chức.
Ông cho rằng Kiến Văn chưa phục vị, mình đã vào làm quan dưới một nữ chủ thì danh phận không rõ.
Ngự Dương giải thích hành điện Tế Nam vẫn để chính điện cho Kiến Văn, thánh dung và ngọc khuê đứng trước mọi nghi lễ. Nguyệt Quân tự xưng Đế Sư, không xưng hoàng đế. Quân sư và quan lại nhận chức để duy trì chính quyền thay vì tự dựng triều khác.
“Không có thần tử làm việc, lấy gì gọi là hành tại? Nếu người có danh vọng đều nói chờ vua về rồi mới làm, ai mở đường cho vua về?”
Ngô Học Thành im lặng rất lâu.
Ông nhận lời trước tới Tế Nam xem tận mắt.
Trong những ngày ở doanh Ngự Dương, hai người còn cùng tới miếu Quan Công đã sửa xong. Quân sư làm thơ về chữ “trung” của Quan Vũ.
Ngô Học Thành bàn rằng đời sau thường gọi Thục Hán là Hán chính thống, nhưng cái đáng quý của Quan Vũ không phải phục vụ một thế lực cát cứ mà là lòng muốn “phò Hán”. Người trung không thể chỉ nhìn chủ mình có mạnh hay không.
Ngự Dương nghe rất hợp ý.
Ông càng quyết tiến cử Ngô Học Thành.
Quân sư lập liền năm bản sớ.
Bản thứ nhất đề nghị dùng Ngô Học Thành ở địa vị đủ cao để các cựu thần đang ẩn có người nhìn vào.
Bản thứ hai xin giao Diêu Tương mở phủ Kinh Môn, bởi ông vừa có văn vừa có võ.
Bản thứ ba bổ nhiệm Thẩm Kha, Đổng Xuân Thu cùng các quan mới ở Kinh–Tương.
Bản thứ tư điều một số tướng đã xa nhà quá lâu về Tế Nam hoặc các doanh gần quê, thay bằng người mới để quân không thành một đời sống cắt đứt gia đình.
Bản thứ năm xin mở lại khoa cử sau sáu năm gián đoạn vì chiến tranh và đói kém, nhưng không chỉ một khoa văn cũ mà chia sáu loại tài năng để thu người thực dụng.
Ngự Dương viết:
“Nhà nước thiếu người không phải vì thiên hạ không có tài, mà vì cửa lấy người quá hẹp.”
Ngô Học Thành đọc bản xin mở sáu khoa, nói:
“Câu ấy đáng hơn việc tiến cử ta.”
Ngự Dương cười:
“Tiến cử một danh thần chỉ giải một chỗ trống. Mở đúng đường mới có người cho nhiều đời.”
Khi sớ gửi đi, Ngô Học Thành mang theo đứa trẻ được mình nuôi nhiều năm về Tế Nam.
Nguyệt Quân nhận được báo trước, đích thân dặn quan tiếp không được bày lễ quá xa hoa. Nàng biết người giữ tiết lâu năm thường càng ghét cảnh phô trương.
Ngô Học Thành vào hành điện, trước tiên thấy thánh dung Kiến Văn ở chính điện.
Ông quỳ rất lâu.
Sau đó mới sang điện Đế Sư.
Nguyệt Quân không nhận đại lễ như của thần với vua, nói:
“Tiên sinh là cựu thần của thánh chủ, hôm nay tới giúp hành triều, không phải tới đổi chủ.”
Một câu ấy làm Ngô Học Thành yên tâm.
Ông nhận chức sau khi nhiều lần từ chối.
Đứa trẻ mồ côi cũng được đưa vào học, không vì cha là trung thần mà tự động nhận quan.
Không lâu sau, người ta báo Tiền Cần — vị tế tửu đã đi nghênh giá — đang trở về trong tình trạng bệnh nặng.
Tin ấy khiến Ngự Dương đang ở tiền tuyến lập tức đổi sắc.
Một vị danh thần vừa xuất hiện.
Một vị lão thần khác lại sắp hoàn thành đoạn đường cuối của đời mình.
Đọc truyện tại: vanuyencac.com

Ghi chú cá nhân
Chỉ mình bạn thấy