Chương 73: Ngụy chủ phụng chính sóc rút quân, Liên Châu mộ Kim Tiên xin học đạo
Chiếc bình đồng đỏ Mạn Đà Ni dùng để thu đá bay vốn có lai lịch riêng.
Theo lời kể của truyện, đó là pháp khí của một dị nhân Tây Vực gọi Ma Ha Đạo Nhân. Người này tu hành ngoài cả khuôn phép Đạo lẫn Phật, từng dùng chiếc bình luyện đá, luyện đan, lâu ngày khiến nó sinh linh tính. Bình có thể phóng lớn hoặc thu nhỏ tùy ý, đặc biệt khắc những vật đá đã bị nhấc khỏi mặt đất.
Về sau vật ấy rơi vào Ma cung.
Mạn Đà Ni đọc tấu của Ngự Dương, biết Doãn Thiên Phong có thuật điều khiển cát đá, mới tới Sát Ma Công Chúa mượn dùng. Vì thế ở Chương 72, những khối đá đang bay bị bình thu sạch; thứ còn nằm yên dưới đất lại không bị ảnh hưởng.
Liên Đại sau trận ấy lui hàng chục dặm.
Các tướng quanh nàng không ai còn lời hay. Doãn Thiên Phong nói chỉ còn một vài cách hiểm nhưng chính Liên Đại đã bắt đầu chán:
“Đem một thứ ra, bên kia có một thứ phá. Chẳng lẽ trong túi họ chứa cả thiên hạ?”
Liên Châu khuyên:
“Đã không có đại thù với Đế Sư, sao không giảng hòa?”
Liên Đại lập tức gạt:
“Bại rồi xin hòa chẳng phải tự nhận thua?”
Thạch Long lại khuyên đánh úp ban đêm. Tiểu Vương Hồng khoe phép sương đen của mình vẫn chưa dùng, có thể khiến đối phương nhìn không rõ rồi đưa quân vào trại.
Liên Đại nghĩ đây là cơ hội vớt lại thể diện, bí mật đồng ý.
Nhưng ngay tối ấy, một sứ giả từ Vân Dương tới.
Người mang thư tên Thường Thông, phụng lệnh Lưu Thông.
Trong thư, Lưu Thông nói gần đây mình gặp một “tiên nữ” biết trước việc đời — chính là Liễu Yên dưới thân phận ở cung. Nàng cho biết Nguyệt Quân là Hằng Nga Nguyệt Điện giáng thế, có quần tiên trợ, chỉ có thù với Yên Vương chứ không có thù với Vân Dương. Điều Đế Sư muốn là tôn chính thống Kiến Văn.
Lưu Thông nghĩ rất đơn giản: nếu mình cũng dùng niên hiệu Kiến Văn thì hai bên không cần đánh; Vân Dương vẫn giữ đất của mình, việc gì phải chết người để giúp Chu Đệ?
Ông vì vậy quyết phụng chính sóc Kiến Văn, ra lệnh Liên Đại rút quân về, mọi việc giảng hòa để nàng tùy cơ bàn.
Trong thư Lưu Thông còn khoe mình vừa lập một “tiểu hậu” có pháp thuật.
Liên Đại đọc tới đó lập tức nổi cơn ghen, hỏi Thường Thông người mới là ai.
Sứ giả nói là một phụ nữ gặp trong núi, đi cùng “mẹ”, đều được giữ trong cung.
Liên Đại giận tới mức chỉ muốn lập tức quay về.
Nhưng trước mặt chư tướng nàng không thể nói mình bỏ cả đại quân vì chuyện trong cung, nên ngoài miệng vẫn bảo:
“Nếu muốn hòa, cứ sai sứ sang trước, xem bọn họ nói thế nào.”
Đêm đó nàng lại cho Tiểu Vương Hồng bí mật đánh trại, muốn thắng một lần rồi mới rút.
Tiểu Vương Hồng làm sương đen trùm quanh các doanh, biến cỏ giấy thành những bóng binh mã, rồi cùng Thạch Long, Doãn Thiên Phong dẫn một cánh đánh vào.
Bào Thái Thái và Mạn Đà Ni đang tĩnh tọa đã nhận ra tà khí.
Mạn Đà Ni cười rằng đây chỉ là “trò diễn trong sương”, dùng pháp phá lớp huyễn ảnh. Sau đó bà dùng một bảo vật ngăn đám người đang đánh đêm tiến sâu. Quân Vân Dương thấy các bóng giả mất hết, đường đi lại lộ, lập tức hoảng và rút.
Nguyên tác tả trận này rất dữ dội; bản Việt chỉ giữ kết quả: cánh tập kích bị đánh tan, nhiều người thương vong, Thạch Long và Doãn Thiên Phong phải lui.
Sáng sau Thường Thông tới doanh Ngự Dương.
Ban đầu hắn định nói “giảng hòa”, nhưng bị Thẩm Kha và Diêu Tương hỏi dồn, cuối cùng phải thừa nhận Lưu Thông muốn “quy phụ” chính sóc Kiến Văn.
Ngự Dương tiếp sứ theo lễ, nhưng đặt điều kiện rất rõ:
“Vân Dương nếu thật muốn dừng chiến, phải dùng niên hiệu Kiến Văn, xưng thần nộp cống, nhận điều động khi có chiếu và không được tiếp tục giúp Vĩnh Lạc.”
Thường Thông không dám tự nhận hết, quay về xin Liên Đại quyết.
Liên Đại nghe điều kiện “xưng thần” rất khó chịu:
“Chúng ta cũng có hoàng đế, sao lại làm thần?”
Nhưng lòng nàng lúc ấy đã bay về Vân Dương. Sau một hồi thương lượng, bà đồng ý trước hết rút quân và chấp nhận quan hệ phụ thuộc trên danh nghĩa; việc cống và chức tước sẽ bàn tiếp.
Liên Châu nhân thời cơ ấy xin rời.
Nàng tới doanh hành triều dưới sự dẫn của Phạm Phi Nương.
Vừa thấy Bào Thái Thái, Mạn Đà Ni và Công Tôn Đại Nương, Liên Châu lập tức quỳ, khóc rất lâu.
Bào Thái Thái nói:
“Ta biết tâm ngươi. Nay ra khỏi hoàn cảnh cũ là việc đáng mừng, sao còn khóc?”
Liên Châu đáp mình không khóc vì Liên Đại mà vì bá phụ Liên Đống. Liên Đống nhiều năm chịu nhục giữ chức giả chỉ để bảo toàn anh em nàng. Nay mình được đi theo chính đạo, càng nhớ công người đã gánh tiếng xấu thay.
Mạn Đà Ni trêu:
“Ngươi còn quay về bái Liên Đại làm gì?”
Liên Châu nói:
“Ta bái bá phụ. Nếu không có người chịu nhục để giữ chúng ta sống, hôm nay đâu có người tới học đạo.”
Bào Thái Thái thấy nàng có căn khí tiên đạo, đồng ý thu nhận.
Liên Châu viết một bức thư về cho Liên Đại. Nàng cảm ơn đã che chở, nói bản tính vốn không thích phú quý, nay xin theo Đế Sư tu hành. Nàng còn nhắc Liễu Yên đang ở cung Lưu Thông chính là người do phía Nguyệt Quân đưa vào, vì vậy hai bên chẳng khác nào trao đổi người làm tin; Liên Đại không nên hại Liễu Yên.
Mạn Đà Ni đọc thư cười:
“Viết văn nhã thế, người nhận có hiểu hết không?”
Liên Châu vẫn gửi.
Liên Đại đọc xong, biết Châu Nương không muốn trở lại thì thôi. Điều nàng để tâm hơn là Liễu Yên trong cung hóa ra có quan hệ trực tiếp với Nguyệt Quân. Nàng càng muốn về thật nhanh để xem “tiểu hậu” kia rốt cuộc là người thế nào.
Ngay đêm đó Liên Đại hạ lệnh toàn quân rút.
Sau này Vân Dương chính thức dùng niên hiệu Kiến Văn, xưng thần nộp cống, không còn mở chiến trường với hành triều nữa.
Bào Thái Thái, Mạn Đà Ni và Công Tôn Đại Nương mang Liên Châu về Tế Nam phục mệnh.
Ngự Dương tiễn ba vị tiên sư ra ngoài doanh, liên tục cảm tạ.
Mạn Đà Ni nói:
“Những bảo vật vừa dùng phần lớn đều mượn. Xong việc phải trả chủ cũ, không phải nhà ngươi thích món nào là giữ lại.”
Ngự Dương bật cười:
“Vật có chủ, đương nhiên phải hoàn.”
Vậy là một cuộc chiến tưởng sẽ thành đại họa ở Nam Dương lại kết thúc bằng việc đối phương tự rút và chính một nữ tướng bên kia xin nhập môn.
Nguyệt Quân không lấy Vân Dương bằng thành trì.
Nàng lấy được sự dừng chiến.

Ghi chú cá nhân
Chỉ mình bạn thấy