Bỏ qua đến nội dung chương
Trang truyện · Nữ Tiên Ngoại Sử · Chương 61: Kiếm tiên cưỡi lá tìm Trinh Cô, nữ phi tướng một cờ đuổi chủ soái

Chương 61: Kiếm tiên cưỡi lá tìm Trinh Cô, nữ phi tướng một cờ đuổi chủ soái

Tiến độ đọc được lưu trên thiết bị này.

Công Tôn Đại Nương và Mãn Thích Nô đóng quân tại Cao Bưu. Chiều xuống, Công Tôn đứng nhìn về phía cực tây của hồ, bỗng thấy giữa không trung có một tầng khí mỏng, không hẳn mây cũng chẳng phải sương, phía trên giống hình lọng, phía dưới lại như vô số sợi nhỏ nối thẳng xuống một điểm bên hồ.

Bà chỉ cho Phạm Phi Nương:
“Ở dưới kia có người căn khí khác thường, rất có thể là tiên tử bị đày xuống trần.”

Phi Nương nhìn mãi không thấy những “sợi khí”.

Công Tôn giải thích theo lối thần tiên của truyện: người có linh căn sâu khi còn chưa hiển đạt thường có khí riêng nối với thần thức, người phàm không nhìn thấy nhưng quỷ thần nhận ra nên lúc gặp đại nạn thường được âm thầm che chở.

Phi Nương hỏi:
“Khí của Đế Sư thế nào?”

Công Tôn cười:
“Người đã chấp chưởng đại nghiệp thì khí đã thu vào thân, đâu còn để ta nhìn như lúc vi hàn.”

Hai người quyết đi tìm.

Mãn Thích Nô không biết đạo thuật nên ở lại giữ quân.

Gần sáng, Công Tôn và Phi Nương tới bờ hồ. Nước rộng mênh mông, phía xa chỉ có một điểm đèn. Công Tôn hái một chiếc lá liễu, dùng pháp biến thành thuyền nhỏ, cùng Phi Nương lướt qua mặt nước.

Ở bờ tây có một thuyền cá cũ.

Trong khoang, một thiếu nữ chừng mười sáu tuổi ngồi bên ngọn đèn đơn độc. Tóc nàng cắt ngắn, y phục cũ, mặt cố ý để lấm bẩn, dáng vẻ như người không muốn ai để ý đến dung mạo.

Công Tôn bước lên thuyền.

Cô gái cảnh giác:
“Hai vị muốn mua cá? Ở đây không có.”

“Không mua cá.”

“Muốn qua sông? Tôi cũng không biết chèo.”

Công Tôn đáp:
“Ta tới độ người. Không phải đưa qua sông, mà đưa khỏi cảnh khổ.”

Cô gái vừa nghe chữ “độ” đã đỏ mắt.

Nàng chính là Hồ Thai Ngọc, em ruột Hồ Truyền Phúc, con của Đại Lý tự thừa Hồ Nhuận — người đã chết trong cuộc thanh trừng sau biến Tĩnh Nan.

Lúc gia đình gặp họa, Thai Ngọc mới hai tuổi. Nàng rơi vào tay một nhà khác, lớn lên làm tỳ. Từ nhỏ vẫn nhớ những mảnh vụn về gia đình và cái chết của cha, nên quyết không lấy chồng, không muốn nhờ dung mạo tìm đường sống.

Có lần chủ nhà hiểu lầm nàng có ý dò chuyện riêng, đánh đuổi khỏi nhà. Thai Ngọc lang thang tới bờ hồ, định bỏ đời thì một đôi vợ chồng đánh cá cứu.

Hai người nghe rõ lai lịch, thương nàng là con trung thần, giấu trên thuyền hơn nửa năm.

Thai Ngọc nhiều lần xin xuất gia nhưng không có nơi nương.

Công Tôn nói:
“Anh cô Hồ Truyền Phúc hiện ở hành triều Tế Nam, đã được Đế Sư cứu từ nhiều năm trước. Người cô cần tìm không phải cái chết, mà là đường về.”

Thai Ngọc bật khóc.

Phi Nương kể mình cũng từng mất chồng, mất nhà, từng nghĩ đời chỉ còn một chữ “tiết”. Nhưng gặp Nguyệt Quân mới hiểu giữ chí không có nghĩa phải tự hủy mình.

Thai Ngọc quỳ xin được theo học đạo.

Công Tôn nhận lời, nhưng trước hết phải báo ơn đôi vợ chồng đánh cá.

Sáng ra họ trở về. Người đánh cá nghe anh Thai Ngọc đang làm quan dưới quyền Nguyệt Quân thì mừng như chính nhà mình có hỷ sự. Công Tôn tặng tiền nhưng không coi đó là mua ân; bà còn hứa nếu họ muốn đổi đời sẽ có nơi ở và việc làm.

Điều bất ngờ là người đánh cá có em và cháu đang làm lính giữ cửa tây Dương Châu.

Công Tôn lập tức nhìn thấy một cơ hội.

Bà không bắt người già phải làm việc nguy hiểm. Chỉ nhờ họ đưa mình và Phi Nương vào thành dưới danh nghĩa người nhà đi mua đồ cho Thai Ngọc.

Nhờ mối thân thuộc ấy, hai nữ kiếm tiên vào Dương Châu mà không cần dùng pháp cưỡng phá cửa.

Trong nhà người lính già, Công Tôn nói rõ thân phận.

Người lính sợ đến tái mặt:
“Chúng tôi chỉ là lính nhỏ, thành nhiều quân như thế, làm sao giúp nổi?”

Vợ ông lại thực tế hơn:
“Họ đã tới được tận nhà mình thì chắc đã có cách. Chỉ cần nói chúng tôi phải làm gì.”

Công Tôn đáp:
“Không cần các người cầm vũ khí. Đến lúc quân ngoài thành tới, chỉ cần giữ cửa, đừng đóng đường với cờ đỏ.”

Bà còn đảm bảo người giúp mở cửa sẽ không phải tham gia giao chiến sau đó.

Công Tôn và Phi Nương tiếp tục đi trong thành, xem các điểm phòng thủ và kho.

Bà gửi một lá thư kín cho Cao Hàm Ninh:
“Dương Châu đã có cửa.”

Cao Hàm Ninh nhận được, kinh ngạc:
“Ta đang tính đánh thế nào, hai người họ đã vào thành rồi.”

Ông lập tức sửa kế.

Thay vì công thành lâu, quân hành triều áp sát các doanh bên ngoài, tạo áp lực đủ để quân Vĩnh Lạc rời vị trí. Công Tôn và Phi Nương thì làm thanh thế trong thành, dùng cờ hiệu khiến nhiều người tưởng nội bộ đã có đại quân nổi dậy.

Đêm phát động, cờ trắng có chữ hành triều xuất hiện trên một đoạn thành.

Ngoài doanh, quân Cao Hàm Ninh đồng loạt tiến.

Quân giữ Dương Châu thấy trong thành lửa hiệu nổi, lại có cờ Nguyệt Quân, tưởng nội ứng khắp nơi. Một số tướng bỏ vị trí đi cứu nhà, một số tìm đường rút.

Mãn Thích Nô đứng ngoài thành chỉ phất một lá cờ, thúc nữ kỵ binh ép vào đúng chỗ quân địch đang dao động. Vì thế tiêu đề gọi nàng “một mảnh cờ đuổi chủ soái”.

Dương Châu cuối cùng mở cửa.

Cao Hàm Ninh vào thành, gặp Công Tôn và Phi Nương, thở dài:
“Hai nữ tướng chỉ nhờ một người lính giữ cửa và một lá cờ mà làm thành kiên tự tan. Ta cầm mấy vạn quân, quả phải hổ thẹn.”

Công Tôn chỉ cười:
“Không có đại quân ngoài thành, một lá cờ của ta chỉ là mảnh vải.”

Hồ Thai Ngọc sau đó được đôi vợ chồng đánh cá đưa tới.

Nàng không ở Dương Châu lâu. Mãn Thích Nô phụng mệnh hộ tống thẳng về Tế Nam gặp Hồ Truyền Phúc và Nguyệt Quân.

Công Tôn cùng Phi Nương lại lập tức lên đường về Khai Phong, vì phía Hà Nam sắp mở một chiến dịch khác.

Một chuyến tìm “Trinh Cô” ở hồ vô tình trở thành chiếc chìa khóa mở Dương Châu.

Lời Kiến Văn “lấy được Hoài–Dương mới bàn phục vị” tới đây đã đủ hai chữ.

Ghi chú cá nhân

Chỉ mình bạn thấy
Đang kiểm tra tài khoản…

Bình luận chương

Đang tải bình luận…