Chương 53: Hai bài thơ chia đường lần dấu thánh giá, một bài kệ ba lần niêm gửi Đế Sư
Trong khi Tăng Công Vọng và Trình Tri Tinh đi tuyến tây nam, Diệp Vĩnh Thanh và Dương Kế Nghiệp lại đi theo đường đông nam.
Rời Tế Nam, hai người tới địa giới Tế Ninh rồi Duyện Châu. Khi ấy việc kiểm tra người qua lại giữa các vùng Vĩnh Lạc còn rất gắt, hai người vẫn mặc áo nho sinh nên dễ bị hỏi.
Họ tìm tới Thái thú Phương Dĩ Nhất.
Phương Dĩ Nhất vốn là người cùng chí hướng. Nghe mục đích chuyến đi, ông cười:
“Hai vị áo rộng mũ cao như thế, đi ba trạm là bị giữ. Muốn tìm hoàng đế thì trước phải học bản mặt cũ của ta.”
Ông lấy đạo phục, giày gai, phất trần và hai tiểu đồng, giúp hai người hóa thành đạo sĩ du phương.
Diệp Vĩnh Thanh còn đòi mượn luôn pháp hiệu cũ của Phương Dĩ Nhất. Cuối cùng ông mang tên giả Đại Phương Đạo Nhân; Dương Kế Nghiệp gọi Hựu Huyền Đạo Nhân.
Nhưng ngay sau đó Phương Dĩ Nhất lại cảnh báo: nếu dùng đúng pháp hiệu đã nổi tiếng của mình, qua trạm càng dễ bị hỏi. Vì vậy trên giấy đi đường phải đổi quê quán và danh xưng linh hoạt, chỉ dùng pháp hiệu khi gặp người đáng tin.
Hai người lên đường.
Họ xuống Bạc Châu, qua Trừ Châu, nhớ lại chuyện Minh Thái Tổ thuở dựng nghiệp rồi tới Hợp Phì, Vu Hồ, Hoàng Sơn.
Ở Hoàng Sơn, Diệp Vĩnh Thanh thấy biển mây như sóng bạc dưới mặt trời, hứng chí đề thơ lên vách. Dương Kế Nghiệp trách:
“Đã cải trang để giấu thân phận mà lại đi khắp nơi để chữ, chẳng khác tự treo biển báo.”
Diệp Vĩnh Thanh cười:
“Trời sinh bút cho ta, Yên Vương làm gì được?”
Hai người đi Uyển Nguyên, Tích Khê, tới Kính Đình Sơn. Thấy thơ Lý Bạch trên bia, Diệp Vĩnh Thanh lại họa. Dương Kế Nghiệp vốn ít thích làm thơ, bị ép mãi mới viết một bài giản dị.
Những đoạn thơ trong nguyên tác không chỉ để tô cảnh, mà còn cho thấy hai người khác tính: Vĩnh Thanh phóng khoáng, nói nhiều, dễ xúc động; Kế Nghiệp cẩn thận, kiệm lời, thường kéo bạn trở lại việc chính.
Họ đi qua Thiện Quyền Động, Thái Hồ rồi tới Ngô Giang thăm Sử Bân.
Sử Bân nghe tin hành điện Tế Nam đang ngày một vững, vừa mừng vừa lo. Ông nói Kiến Văn từng ghé nhà mình, nhưng luôn tránh ở lâu vì sợ liên lụy người khác. Mùa xuân vừa rồi hoàng đế nói sẽ đi Thiên Thai, Quát Thương, Nhạn Đãng rồi trở lại, nhưng tới nay chưa có tin.
Ông còn hỏi rất kỹ Nguyệt Quân có thật lòng phò Kiến Văn không.
Diệp Vĩnh Thanh đáp:
“Nếu Đế Sư muốn tự lập, nàng đã có thành, quân, lương và nhân tâm từ lâu. Việc gì phải để chính điện trống, năm nào cũng dùng niên hiệu Kiến Văn, lại phái chúng tôi đi hàng nghìn dặm tìm vua?”
Sử Bân nghe xong mới yên tâm.
Hai người rời Ngô Giang, đi Thiên Thai, Ninh Ba, Hội Kê rồi vòng lên Hàng Châu. Tới đài câu Nghiêm Tử Lăng ở Đồng Lư, họ thấy một bài thơ chữ còn mới. Nội dung nhắc giang sơn vẫn vậy nhưng người đã đổi, lại dùng giọng một lão tăng lang bạt.
Diệp Vĩnh Thanh nhảy lên:
“Đây nhất định là ngự bút!”
Dương Kế Nghiệp vẫn thận trọng:
“Dù đúng, người viết cũng đã đi.”
Một tiểu sa di nói hai nhà sư mới rời mấy ngày, nghe đâu hướng Nhạn Đãng.
Hai người lập tức chia đường: một người qua Long Môn, một người qua Đào Hoa Ải, hẹn gặp tại Thiền Trí Tự ở Quát Thương. Đây chính là “hai câu thơ chia đường” của hồi.
Hội lại xong, họ cùng tới Nhạn Đãng.
Ở một vách núi, Diệp Vĩnh Thanh thấy thơ đề “Nguyệt Quân”. Ông cho rằng Đế Sư đã dùng pháp thân tới trước, cố ý để dấu giúp họ.
Dương Kế Nghiệp lại nói:
“Việc tìm quân phụ là trách nhiệm của chúng ta. Đừng thấy một bài thơ rồi đổ hết cho thần tiên.”
Tại Bảo Nham Tự, nhờ chiếc quạt chép bài thơ trên đài Nghiêm Tử Lăng, họ bắt chuyện được một nhà sư. Hỏi lâu mới biết người ấy là em của Tề Thái, còn vị tăng từng đề thơ chính là người họ Tống, thuộc hậu duệ Tống Liêm. Cả hai cũng đang tìm Kiến Văn để theo hầu.
Tin họ nhận được vẫn chỉ là: hoàng đế từng hướng về Triều Âm Động rồi biến mất.
Hai sứ giả tiếp tục đi Phúc Kiến.
Họ qua Vũ Di, lại thấy dấu thơ Nguyệt Quân và Bào Thái Thái trên vách, nhưng vẫn không có hành tại.
Đi Quảng Đông, Lôi Châu, Hải Nam, họ gặp cả những hiện tượng kỳ lạ được dân địa phương truyền là dấu một vị “hoàng đế hòa thượng” từng đi qua.
Một con chim biết nói ở Xích Lũng Sơn còn kêu:
“Kiến Văn Đế, Kiến Văn Đế, tới rồi đi; hai công bôn ba làm việc gì?”
Hai người ngạc nhiên nhưng cũng xem đó như lời nhắc: người mình tìm luôn đi trước.
Sau nhiều năm, họ quay lại Chiết Giang, gặp Trịnh Hiệp.
Trịnh Hiệp đưa ra một thiếu niên mười hai, mười ba tuổi, chính là con nhỏ của Phương Hiếu Nhụ đã được người trung nghĩa bí mật nuôi giữ qua nhiều năm. Ông xin hai người đưa cậu về hành điện để đoàn tụ với họ hàng và bảo toàn dòng dõi.
Diệp Vĩnh Thanh và Dương Kế Nghiệp lập tức nhận.
Không lâu sau họ lại tới nhà Sử Bân.
Lần này Sử Bân báo một tin thật sự quan trọng: Kiến Văn đã quay lại, nhưng chỉ ở rất ngắn rồi tiếp tục đi. Trước lúc rời, hoàng đế để lại một bài kệ bốn câu, ba lớp niêm phong, giao Sử Bân mang tới tận tay Đế Sư.
Hoàng đế còn dặn: khi lực lượng Kiến Văn lấy được Hoài–Dương, lúc ấy mới có thể bàn việc phục vị.
Hai sứ giả vừa mừng vừa đau.
Họ đi hàng nghìn dặm vẫn chưa gặp được vua, nhưng ít nhất đã biết hoàng đế có hướng đi và ý định rõ.
Bốn sứ giả cuối cùng hẹn gặp lại tại Tiêu Sơn Tự, tổng hợp đường đi rồi chia thành nhiều nhóm về Tế Nam để tránh bị chú ý.
Chín năm tìm kiếm, họ không đưa Kiến Văn về.
Nhưng họ mang về thứ quan trọng hơn một lời đồn: chính thư của hoàng đế.

Ghi chú cá nhân
Chỉ mình bạn thấy