Chương 43: Nét kiếm chưa nối lại
Cuối đợt khảo Năm 5, sân nước ở Hàn Lộ hiếm khi trống từ sáng.
Bùi Linh Sa đã chuyển hai chậu cần đổi nước sang bờ phía đông từ hôm trước. Sáng nay nàng chỉ ghé kiểm một vòng, đặt lại tấm che nắng cho chậu thứ ba rồi chỉ vào khoảng đất cạnh khay Phản Chiếu Sa.
— Tới giữa giờ ngọ ta cần bờ này. Trước đó hai người dùng sân nước thì cứ dùng, đừng để nước thử tràn sang rãnh chậu.
Tần Dư đáp:
— Ta nhớ.
Bùi Linh Sa không đứng lại chờ khách. Nàng cầm sổ đi về dãy mẫu còn phải giữ qua kỳ sau, để sân nước đúng phần đã hẹn.
Ôn Tịch tới khi lớp sương cuối cùng trên mép khay vừa tan.
Ba năm không gặp trực tiếp khiến dáng người quen có vài chỗ khác trước. Áo kiếm tu Tịch Chiếu vẫn gọn như cũ, pháp kiếm vẫn đeo ở vị trí Tần Dư nhớ, nhưng linh lực quanh thân đã lắng sâu hơn. Tần Dư chỉ cần đợi người kia bước qua mốc sân đã nhận ra mức áp lực ấy không còn giống Trúc Cơ trung chàng từng biết qua tin cũ.
Chàng chắp tay.
— Ôn huynh, hậu kỳ rồi?
Ôn Tịch cười.
— Củng cố xong mới dám xuống núi. Nếu tới đây mà còn phải mượn sân của đạo hữu để ngồi điều tức ba ngày thì mất mặt quá.
Tần Dư bật cười, nhận túi giấy dài người kia đưa sang rồi dẫn tới mái che cạnh khay.
Ôn Tịch nhìn Dẫn Phong bên hông Tần Dư, rồi nhìn vết cọc cũ ngoài sân.
— Thư của ngươi nói Bắc Tân có chuyện. Giải quyết thế nào?
— Ta thua Kỷ Hoài Sơn một lượt giữ đường. — Tần Dư nói. — Hoành Độ đổi được chỗ đứng, nhưng kiếm vẫn quay qua góc cũ. Kỷ Hoài Sơn nhìn thấy rồi đứng chờ ở đó. Hơn ta một tiểu cảnh, ép thêm một nhịp là đủ.
Ôn Tịch không nói sẽ đi xem người thắng là ai, cũng không hỏi Tần Dư có cần lấy lại mặt mũi không. Chàng chỉ gật đầu.
— Vậy góc ấy còn phải sửa.
— Phải. Nhưng hôm nay không phải nhờ Ôn huynh sửa hộ.
— May quá. — Ôn Tịch đặt túi giấy lên bàn. — Ta cũng không mang đáp án tới.
Bên trong là một phần bản dập được cuộn riêng, mép ngoài có dấu giới hạn phạm vi. Ôn Tịch mở tới đúng đoạn được phép khảo rồi dùng hai thỏi chặn giấy giữ bốn góc.
Tần Dư nhận ra một trong ba vùng dấu từng được Hứa Trường Canh cho xem ở Tịch Chiếu nhiều năm trước. Đó chỉ là một đoạn kiếm tích đã chép ra, nhiều nét đè lên nhau quanh chỗ chuyển thế.
Ôn Tịch chỉ một nét mảnh sát mép dưới.
— Ta mắc ở đây.
Tần Dư cúi xuống.
Nét ấy ngắn đến mức nếu nhìn cả tờ, nó rất dễ bị gộp vào đường kế bên. Hai người đã biết dấu trên bích có nhiều lớp; câu hỏi hôm nay là nét mảnh này thuộc lớp nào.
— Ôn huynh đang đọc nó là đầu phát của lớp sau?
— Trước đây là vậy. — Ôn Tịch đặt đầu ngón tay cách giấy một khoảng, không chạm vào mặt dập. — Nhưng lúc đem vào nhịp chuyển, phần trước vừa dứt là chỗ này phải tự khởi lại. Ta làm được, chỉ là luôn thấy thiếu một đoạn liền. Nếu nó không phải đầu phát thì cách phân lớp cũ đã cắt sớm.
Tần Dư nhìn sang khay nước.
— Thử xem phần lực nào còn ở lại sau lúc hình kiếm đã chuyển.
Tần Dư gõ nhẹ lên thành khay.
— Phản Chiếu Sa chỉ hiện dư lưu kiếm khí vừa qua nước. Nó không đọc hộ kiếm pháp.
Ôn Tịch gật đầu. Bản dập vẫn nằm trên bàn; khay chỉ dùng để kiểm một câu hỏi hẹp.
Hai người thay nước mới, đợi mặt khay phẳng hẳn. Tần Dư lùi ra ngoài mép. Ôn Tịch rút kiếm.
Mũi kiếm đi ngang qua khay, gom thành một tuyến gọn rồi đổi sang nhánh kế. So với lần Tần Dư nhìn kiếm Ôn Tịch ở Tịch Chiếu nhiều năm trước, tuyến hôm nay dài hơn mà không cần gấp gáp kéo về.
Khi hình kiếm trên mặt nước đã đổi hướng, lớp sa dưới đáy mới hiện rõ.
Một vệt chính kéo qua khay. Sát mép dưới, có một nét rất mảnh nối từ đoạn cũ, muộn hơn hình kiếm một nhịp nhỏ.
Tần Dư ngồi xuống gần khay.
— Chỗ này chưa rời phần thu.
Ôn Tịch cũng cúi xuống. Chàng nhìn vệt rồi nhìn bản dập, nhưng không nhận ngay kết luận.
— Có thể vì ta phát quá mạnh. Dư lực còn nhiều nên kéo dài.
— Có thể.
Ôn Tịch tự hạ lượng linh lực ở lượt thứ hai. Lần này tuyến kiếm ngắn hơn, áp lực trên mặt nước nhẹ tới mức chỉ làm một gợn mỏng sát thành khay. Chàng giữ nguyên thứ tự động tác, chỉ giảm phần lực phát.
Hai người lại đợi nước yên.
Vệt chính nhạt đi thấy rõ.
Nét mảnh vẫn xuất hiện ở cùng phía.
Nó ngắn hơn, nhưng hướng nối không đổi. Đầu của nó vẫn ăn vào phần thu cũ trước khi tách khỏi dấu chính.
Ôn Tịch im một lúc, rồi kéo bản dập lại gần khay hơn.
— Nếu đây là dư lực mạnh, giảm tới mức này đáng lẽ hình phải đổi khác nhiều hơn.
Tần Dư đặt một que đánh dấu ngoài mép giấy, không chạm lên mặt bản dập.
— Còn nếu là phần lực vẫn đang được điều khiển, giảm lượng chỉ làm nó mảnh đi. Thứ tự không đổi.
Ôn Tịch nhìn lại ba chỗ chồng nét. Lần này chàng lấy tờ giấy trắng riêng, vẽ hai đường phân lớp cũ, sau đó dời ranh một đoạn bằng đúng chiều dài nét mảnh.
Khoảng trống từng khiến nhịp chuyển của chàng phải khởi lại bỗng ngắn đi.
Không biến mất hoàn toàn.
Nhưng đủ để câu hỏi đổi dạng.
— Ta đã gộp lớp sau sớm quá. — Ôn Tịch nói.
Tần Dư nghe câu ấy, trong lòng nổi lên một niềm vui rõ ràng. Người đứng trước mặt đã Trúc Cơ hậu và hiểu bản dập nhiều hơn chàng; vậy mà ở cái khay nước do chính chàng bỏ công gây dựng, có một nét Ôn Tịch phải cúi xuống nhìn cùng chàng mới tách được.
Tần Dư rút Dẫn Phong.
— Cho ta thử phần thu ấy bằng Quy Chi.
Ôn Tịch lùi khỏi mép khay.
Tần Dư không bắt chước toàn động tác trên bản dập. Chàng chỉ thử giữ phần lực còn điều khiển được qua chỗ tưởng đã dứt.
Dẫn Phong đi thấp. Khai Phong mở một đoạn vừa khay. Quy Chi kéo lại sớm, giống cách chàng đã dùng sau trận Bắc Tân nhưng lần này không có tải hay đối thủ ép bên cạnh.
Vệt sa hiện ra gọn ở phần đầu.
Tần Dư giữ thêm.
Một nét mảnh kéo tiếp được một đoạn, rồi đứt đúng lúc chàng thử chuyển ý sang hướng kế.
Chàng không cưỡng phát thêm.
Ôn Tịch ngồi xuống nhìn chỗ đứt.
— Ngươi giữ được phần trước lâu hơn lần ở Tịch Chiếu.
— Nhưng tới chỗ nối vẫn mất.
— Ừ.
Tần Dư tra Dẫn Phong vào vỏ.
Câu “nếu nối được thì sao” đã ở ngay trước mắt, nhưng chàng không gọi nó thành một chiêu mình chưa có. Hiện tại, chàng chỉ biết phần thu có thể còn giữ lâu hơn mình từng tưởng.
Hai người kiểm lại vị trí đứt thêm một lượt rồi dừng. Giữa giờ ngọ, Bùi Linh Sa còn dùng bờ này cho chậu.
Tần Dư mang giấy trắng tới bàn.
— Phần nào ta được giữ?
Ôn Tịch chỉ phạm vi đã đánh dấu trên bản dập.
— Dấu trong vùng này được phép đối chiếu và ghi kết quả. Bản dập ta mang về. Phần vận kiếm ngoài vùng thì không sao.
Tần Dư chép đúng nét vừa kiểm, ghi lượng lực tương đối và vị trí vệt sa, rồi làm thêm một bản cùng nội dung đưa Ôn Tịch.
Ôn Tịch nhận tờ ấy, đọc hết rồi gấp vào cạnh bản dập.
— Lần sau ta thử lại ở Tịch Chiếu. Nếu chỗ nối vẫn hụt theo cùng thứ tự, ta gửi kết quả cho ngươi.
— Ta cũng sẽ thử phần của mình. Chỉ phần mình được phép giữ.
Ôn Tịch cười.
— Ta biết. Nếu không, sư phụ ta đã chẳng cho mang thứ này xuống.
Ngoài mái che, gió lay mấy tấm thẻ tre treo ở dãy chậu. Ôn Tịch đi ra rửa tay, dừng trước chậu mẫu Bùi Linh Sa đã giữ lại qua kỳ sau.
— Đây là phần không chuyển kịp?
Tần Dư gật đầu.
— Một phần. Có mẫu phải đổi mục tiêu khảo. Chậu nhạy thì giữ lại.
Ôn Tịch nhìn con đường nhỏ từ bãi ra khe.
— Ngươi từng hỏi ta nếu tìm được người trong cốc mà họ đi chậm thì tính thế nào. Giờ ngươi định chừa bao nhiêu ngày để đưa họ ra?
Tần Dư không trả lời ngay bằng một con số.
Nhiều năm trước, chàng từng nghĩ tìm thấy người là phần khó nhất. Hàn Lộ đã dạy chàng một con đường đủ người đi chưa chắc đủ tải, một mùa lỡ nhịp cũng đủ làm kế hoạch đổi khác.
— Chưa biết. — chàng nói. — Phải biết người nào thực sự muốn đi, họ đi được bao xa, cần nghỉ thế nào, rồi mới ghép với đường mình có. Nói trước một số ngày bây giờ chỉ là đoán.
Ôn Tịch dựa vai vào cột mái.
— Vậy tới lúc vào cốc, ta sẽ phải hỏi nhiều hơn ta từng nghĩ.
— Ta cũng vậy.
Không ai biến câu ấy thành lời thề.
Bùi Linh Sa từ bờ đông gọi sang rằng nàng cần sân nước.
Tần Dư đáp một tiếng, cùng Ôn Tịch thu khay thử về đúng mép, để rãnh dẫn nước cho chậu được thông. Bản dập trở lại trong túi của Ôn Tịch. Hai tờ ghi phép thử chia về hai người. Phản Chiếu Sa vẫn nằm ở sân của Tần Dư.
Trước khi rời bãi, Ôn Tịch vỗ nhẹ lên túi giấy bên hông.
— Ta mang về một nét của ngươi.
Tần Dư nhìn bản ghi trong tay mình.
— Ta giữ lại một chỗ của Ôn huynh mà ta vẫn chưa nối được.
Lần này, khoảng chưa làm được không khiến chàng thấy mình đứng ngoài cửa.
Nó là một câu hỏi cả hai đều có phần để tiếp tục.

Ghi chú cá nhân
Chỉ mình bạn thấy