Bỏ qua đến nội dung chương
Trang truyện · Nữ Tiên Ngoại Sử · Chương 29: Dựng ngọc khuê, Nguyệt Quân triều chính sóc; múa xẻng sắt, Nữ Kim Cang chặn tiên giá

Chương 29: Dựng ngọc khuê, Nguyệt Quân triều chính sóc; múa xẻng sắt, Nữ Kim Cang chặn tiên giá

Tiến độ đọc được lưu trên thiết bị này.

Sau khi Thanh Châu thuộc về nghĩa quân, Nguyệt Quân cho chọn một công sở làm hành điện tạm của Kiến Văn Đế. Trong chính điện treo thánh dung hoàng đế, các quan bàn cách giữ lễ chính sóc để chứng minh triều Kiến Văn chưa mất về danh nghĩa.

Chu Thượng Văn tâu một việc đặc biệt.

Ngày Kiến Văn Đế xuống tóc rời cung, Ngự sử Tăng Phượng Thiều từng nhặt được một chiếc ngọc khuê mà hoàng đế bỏ lại. Vì sợ bị người Yên truy tìm, ông không thể theo xa, về sau trước khi tuẫn tiết đã trao ngọc khuê cho trưởng tử Tăng Công Vọng, dặn nhìn khuê như nhìn vua.

Lại có cựu Thái thú Ninh Ba Vương Tấn, người từng khởi binh cần vương, mang theo một bức thánh dung Kiến Văn dùng để hiệu triệu nghĩa sĩ.

Nay Tăng Công Vọng và Vương Tấn đều tìm tới Thanh Châu. Cùng họ còn có nhiều cựu thần và con cháu các trung thần đã chết trong biến cố.

Danh sách ngày một dài: Lý Hy Nhan, Chu Thượng Văn, Tăng Công Vọng, Chu Viên, Hàn Ngọc, Cung Đình Phi, Lâm Thanh, Nhan Vô Vi, Quách Khai Sơn, Du Như Hải, Tống Nghĩa, Dư Khánh, Ngưu Mã Tân, Vương Việt cùng nhiều người khác.

Nguyệt Quân đọc danh sách, cảm thấy lực lượng của mình từ một toán nghĩa sĩ Sơn Đông đã bắt đầu mang hình dáng một triều đình lưu vong.

Các quan lại tranh luận nên gọi Nguyệt Quân bằng tước hiệu nào.

Có người cho rằng nàng vẫn mang danh Đại Nguyên Soái. Cao Hàm Ninh lại dâng nghị luận: chữ “hậu” thời cổ từng có nghĩa người đứng đầu, về sau mới chuyên chỉ vợ thiên tử; gọi “Thánh Hậu” dễ khiến danh phận lẫn lộn. Ông đề nghị dùng danh hiệu “Ngọc Hư Thượng Thánh Thái Âm Quân, Chưởng Kiếp Kham Loạn, Chính Danh Sùng Thống, Nhiếp Chính Đế Sư”, nhấn mạnh nàng làm đế sư và người nhiếp chính vì chính thống, không phải hoàng hậu hay nữ đế tự lập.

Ngự Dương Tử và các quan Thanh, Lai, Đăng đều tán thành.

Nguyệt Quân chấp thuận.

Năm mới tới, hành điện chuẩn bị lễ chính đán. Trước ngày đại triều, các cựu thần lần lượt vào yết kiến Đế Sư.

Lý Hy Nhan rơi lệ, nói cuộc biến đổi triều đình chưa từng có, mình không theo kịp xa giá, lại chẳng dám chết vô ích, nhiều năm sống mà tự hổ. Nay nghe Nguyệt Quân công khai tôn Kiến Văn, ông mới thấy trung nghĩa còn chỗ tụ.

Vương Tấn cũng xin được cầm roi theo quân, lấy chiến công chuộc nỗi hận trận cần vương cũ thất bại.

Chu Thượng Văn vốn từng là huyện lệnh Bồ Đài, nay gặp lại người con gái ngày trước mình biết trong dân gian đã trở thành Đế Sư, càng xúc động. Nguyệt Quân vẫn nhớ ơn ông lúc còn làm quan thanh liêm tại quê nhà.

Con cháu những trung thần quỳ xin ra trận, nói thù vua và thù cha cùng một mối.

Nguyệt Quân đáp:
“Ta vốn chỉ là con gái hiếu liêm Đường Quỳ ở Bồ Đài. Kiến Văn là chính thống do Cao Hoàng Đế lập. Yên phiên lấy binh lực ép vua phải lưu vong, lại tự đổi chính sóc. Ta dựng cờ không phải để tranh một ngai khác, mà để thiên hạ còn biết đâu là quân thần.”

Ngày mồng một tháng giêng năm “Kiến Văn thứ năm”, Nguyệt Quân cùng văn võ triều bái thánh dung và ngọc khuê theo nghi lễ đã định.

Sau lễ, nàng lại đề nghị lập đàn ngoài nam giao để cáo với trời đất và Minh Thái Tổ.

Ngày mồng ba, toàn thể văn võ theo nàng ra đàn. Biểu văn trình rõ thân phận của Nguyệt Quân, lời thề tôn Kiến Văn, trách Yên Vương dùng việc trong hoàng tộc làm cớ đoạt ngôi, và xin trời đất chứng cho nghĩa quân.

Sau khi lễ xong, ở phía nam đàn bỗng xuất hiện luồng ánh sáng trắng. Đào xuống khoảng hai thước, quân sĩ tìm được một ngọc tỷ Lam Điền, trên khắc tám chữ mang ý “đức Khôn rộng lớn, thuận thời trời mà hành”.

Các quan đồng loạt chúc mừng, coi đó là điềm chính thống sẽ phục hồi.

Nguyệt Quân không nhận là tỷ riêng của mình. Nàng tuyên bố phụng Kiến Văn Đế làm “hành tại”, mọi chiếu lệnh của lực lượng từ nay dùng danh nghĩa thừa chế vì vua.

Một hệ thống quan chức tạm được đặt ra. Người có kinh nghiệm triều chính giữ các chức lễ, hình, tài chính và tham nghị; con cháu trung thần được giao việc tùy tài. Hồ Truyền Phúc phụ trách soạn văn; Nhan Vô Vi coi tấu chương; Lâm Thanh được dự kiến về Lai Châu làm quan; nhiều người trẻ giữ cấm vệ hay các bộ quân.

Sau đó Nguyệt Quân quyết đi Đăng Châu úy lạo quân dân và gặp Ngự Dương.

Đội tùy giá lần này đặc biệt có bảy mươi hai nữ đệ tử do Nhiếp Ẩn Nương, Tố Anh, Hàn Hoàng và Mãn Thích Nô chia nhau thống lĩnh. Họ mặc đạo trang, đi theo nghi trượng nhưng không quá xa hoa.

Trên đường, một phụ nữ khỏe mạnh bất ngờ chặn đoàn.

Nàng tay cầm chiếc xẻng sắt lớn, đứng giữa đường, lớn tiếng đòi so tài. Tố Anh hỏi có biết đây là đoàn của Thái Âm Đế Sư không. Người đàn bà đáp chẳng quan tâm danh hiệu gì, ai thắng được nàng mười hiệp thì mới đi qua.

Nhiếp Ẩn Nương nghe vậy quay lại định xử, nhưng Nguyệt Quân truyền gọi thẳng người ấy tới.

Người đàn bà vừa thấy kiệu Nguyệt Quân lại lập tức quỳ.

Nguyệt Quân bật cười:
“Vừa rồi ngạo mạn, sao bây giờ cung kính?”

Nàng tự xưng là người vùng núi Lai Châu, hai mươi lăm tuổi, không lấy chồng, người quanh vùng gọi là Nữ Kim Cang. Nàng từ nhỏ khỏe khác thường, sống bằng săn bắn và lao động, không học võ theo môn phái nào, chỉ quen sử dụng chiếc xẻng nặng trong tay.

Nữ Kim Cang thú thật đã nghe Nguyệt Quân khởi nghĩa, muốn tới giúp nhưng không thích kiểu đứng ngoài nha môn xin gặp, nên cố tình chặn đường để ép người ta phải chú ý.

Nguyệt Quân không giận:
“Người có dị tài thường có dị tính. Ta đang thiếu người giữ đại kỳ bên cạnh. Ngươi nhận việc ấy chăng?”

Nữ Kim Cang nói mình chỉ sợ bị giữ phía sau, còn việc nguy hiểm thì càng thích.

Nguyệt Quân giải thích giữ đại kỳ chính là đi sát trung quân, lúc cần vẫn được ra trận. Nàng nhận lời.

Đoàn tiếp tục đi. Tới địa giới Lai Châu, Cao Hàm Ninh ra đón. Nguyệt Quân phong ông làm Phó quân sư, sau khi Lâm Thanh tới thay việc địa phương thì về Thanh Châu cùng điều độ để phòng quân Vĩnh Lạc phản công.

Dân Lai Châu kéo ra rất đông. Nguyệt Quân thấy nhiều người già yếu, bèn đem một số đan dược phát cho người cao tuổi và người bệnh. Vì người tới ngày càng nhiều, nàng phải nửa đêm rời thành để tránh dân chúng tụ tập quá mức.

Không cần đuốc, Nguyệt Quân tung một viên minh châu lên không, ánh sáng treo giữa trời soi đường như trăng.

Đoàn đi qua Bá Hương Thôn, nơi có nhiều mộ cũ và cây cao. Bất ngờ một đại hán đen, cầm hai lưỡi búa, nhảy ra đánh thẳng vào trung quân.

Nữ Kim Cang lập tức chặn lại.

Hai người đều dựa sức khỏe hơn là chiêu thức tinh xảo, đánh giằng co rất lâu. Mãn Thích Nô nhận thấy đại hán quá khỏe, dùng một viên đạn sắt đánh vào tay khiến hắn mất thế. Nữ Kim Cang thừa cơ quật ngã.

Người ấy vẫn gào lớn rằng mình tới báo thù cho “anh”.

Nguyệt Quân truyền:
“Không được giết. Bắt sống, hỏi rõ căn nguyên.”

Vậy là trên đường tới Đăng Châu, đoàn của Nguyệt Quân lại có thêm một tù binh kỳ lạ.

Trước lúc rời Thanh Châu, Nguyệt Quân còn dặn những quan ở hành điện không được nhân danh phục vị mà tự tiện ban tước quá cao. Kiến Văn Đế vẫn còn sống; bộ máy hiện tại chỉ là quyền nghi trong lúc hành tại chưa về. Mọi việc lớn phải lưu hồ sơ để sau này hoàng đế tự quyết. Chính cách tự giới hạn ấy khiến nhiều cựu thần bớt nghi ngờ nàng có ý mượn danh cần vương để tự lập.

Nàng cũng yêu cầu các phủ vừa chiếm vẫn dùng sổ thuế cũ nhưng tạm giảm những khoản do chiến tranh làm dân không gánh nổi. “Chính sóc” nếu chỉ nằm ở lễ triều mà dân phải chịu nặng hơn trước thì không có ý nghĩa. Đây là lần đầu bộ máy quanh Nguyệt Quân bắt đầu chuyển từ một quân trại sang cách quản trị liên phủ.

Đọc truyện tại: vanuyencac.com

Ghi chú cá nhân

Chỉ mình bạn thấy
Đang kiểm tra tài khoản…

Bình luận chương

Đang tải bình luận…